KỶ NIỆM 47 NĂM NGÀY GIẢI PHÓNG HUYỆN PHÚ NINH (24/3/1975-24/3/2022)

Phú Ninh và tháng 3 lịch sử

Tháng 3 về, khi đất trời giao hòa giữa hai mùa Xuân - Hạ; là nhắc chúng ta nhớ cách đây 47 năm, đúng vào ngày 24-3-1975, huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam hoàn toàn được giải phóng. Sự kiện đó, trở thành mốc son chói lọi trong công cuộc đấu tranh bảo vệ nền độc lập, hòa bình; là niềm tự hào, nội lực trong hành trình xây dựng huyện nông thôn mới hôm nay.

Theo dòng sự kiện

Với âm mưu chia cắt lâu dài đất nước ta, biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới, ngay sau khi Hiệp định Giơnevơ 1954 về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương được ký kết, đế quốc Mỹ can thiệp thô bạo vào tình hình nước ta, chính thức đưa dân tộc Việt Nam bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ đầy gian khổ, hy sinh của 21 năm.

Ngay sau đó, từ năm 1954-1959, chính quyền tay sai của Mỹ đã tiến hành đàn áp các phong trào đấu tranh chính trị của nhân dân ta, ráo riết truy bắt, khủng bố, thủ tiêu cán bộ, đảng viên của ta trên toàn tỉnh và toàn miền Nam, gây ra hàng loạt vụ thảm sát đẫm máu. Địa bàn huyện Phú Ninh cũng chịu cảnh tương tự, địch gây ra vụ thảm sát đẫm máu ở Miếu Trắng- Chiên Đàn, ngã ba An Lâu-Tam Lãnh. Chúng độc chiếm khu rừng ở Khánh Thọ - Tam Thái và biến nơi đây thành nơi tra tấn, sát hại và thủ tiêu cán bộ, chiến sĩ cách mạng của ta. Hành động tàn bạo, ngang ngược của chúng đã làm hàng ngàn cán bộ, đảng viên và những người dân vô tội bị sát hại. Toàn miền Nam nói chung và địa bàn huyện Tam Kỳ - Phú Ninh nói riêng, nơi đâu cũng nhìn thấy cảnh chết chóc, nhiều cơ sở cách mạng bị bể vỡ... phong trào cách mạng lúc này tạm thời lắng xuống.

Giữa lúc phong trào cách mạng trên địa bàn huyện đang tạm thời lắng xuống thì liên tiếp 02 sự kiện có ý nghĩa chính trị đã tác động đến toàn cục miền Nam và phong trào cách mạng của huyện. Đó là sự ra đời Nghị quyết 15 của Trung ương Đảng (1959) và Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam được thành lập (1960); đã chuyển từ cuộc đấu tranh chính trị đơn thuần sang đấu tranh chính trị kết hợp vũ trang. Lúc này, nhiệm vụ trước mắt của Đảng bộ huyện là bằng mọi giá phải xây dựng lại cơ sở cách mạng đã bị mất liên lạc; chống lại luận điệu hô hào của chính quyền Ngô Đình Diệm; cổ vũ phong trào đấu tranh của các tầng lớp nhân dân. Huyện uỷ Tam Kỳ giao nhiệm vụ cho đồng chí Nguyễn Xuân Cúc (Cúc Vọng) tổ chức móc nối, gây dựng lại cơ sở ở cánh Bắc và tổ chức cắm lá cờ của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam ngay trong lòng địch, để cổ vũ khí thế cách mạng. Trong bối cảnh lịch sử lúc bấy giờ, việc móc nối gây dựng lại cơ sở là chuyện khó nhưng khó hơn nữa là việc cắm cờ của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam ngay trong lòng địch. Với sự mưu trí và tài chiến lược của mình, đồng chí Nguyễn Xuân Cúc quyết định chọn núi Dương Bút, thuộc địa phận xã Tam Vinh ngày nay để cắm cờ. Và rạng sáng ngày 20/12/1960, trên núi Dương Bút năm ấy lá cờ nửa đỏ, nửa xanh có hình ngôi sao vàng tung bay trước gió như thách thức với kẻ thù, khẳng định ý chí và niềm tin của nhân dân ta vào cách mạng - rằng cách mạng vẫn tồn tại, vẫn đang tiếp tục lãnh đạo đấu tranh giành độc lập, tự do cho Tổ quốc. Chỉ tồn tại trong khoảng thời gian ngắn - 10 giờ đồng hồ, nhưng hình ảnh lá cờ để lại ý nghĩa vô cùng to lớn.

Từ mốc lịch sử này, lực lượng cách mạng dần được hồi phục, chủ động tấn công vào bộ máy ngụy quyền tay sai, ấp chiến lược của địch; kiểm soát được một số địa bàn quan trọng, đẩy địch vào thế bị động đối phó. Tháng 4 năm 1963, huyện Bắc Tam Kỳ (Phú Ninh ngày nay) được thành lập (trên cơ sở chia tách từ huyện Tam Kỳ). Sau khi chia tách, cùng với việc củng cố tổ chức, sắp xếp lại bộ máy lãnh đạo, huyện Bắc Tam Kỳ đã chỉ đạo kiên quyết chống địch càn quét gom dân lập "ấp chiến lược", giữ vững vùng ta làm chủ; chủ động tập kích địch ở nhiều điểm quan trọng, mang tính chiến lược, tạo bước ngoặt lịch sử quan trọng đối với phong trào cách mạng của huyện như tập kích đồn Trà Vu, đèo Tư Yên, cứ điểm Chóp Chài... vùng giải phóng được mở rộng liên hoàn từ cánh Nam đến cánh Bắc của huyện, tạo bàn đạp vững chắc để quân và dân ta tiếp tục chuẩn bị những trận đánh tiếp theo.

Những năm 1965-1968, cuộc chiến đấu của quân và dân ta bước vào một thời kỳ mới - thời kỳ trực tiếp đối đầu với quân viễn chinh Mỹ. Huyện uỷ Bắc Tam Kỳ đã chuẩn bị kỹ về mọi mặt: từ tư tưởng đến phương pháp tác chiến của bộ đội địa phương và lực lượng du kích xã. Với sự chuẩn bị chu đáo trên mọi mặt trận, chỉ trong 03 năm (1965-1968), trên địa bàn huyện, liên tiếp diễn ra nhiều cuộc tấn công địch và giành thắng lợi vẻ vang, như trận tập kích tiêu diệt được 1 trung đội cộng hoà đóng tại ga Quán Rường, cầu Bà Dụ, núi Cà Tý, cống Ông Tời... Và đặc biệt là trận đánh ở Dương Đá Bầu. Nắm được ý đồ của địch, sau thời gian gần 01 tháng ăn dầm, mai phục đợi địch đến, ngày 8/6/1968, lính Mỹ từ tuyến đường Cẩm Khê - Eo Gió hành quân bọc phía đông Đá Bầu rồi kéo thẳng vào thôn Vĩnh Quý đánh phá. Quân ta đã phục kích sẵn tại đây, đợi địch đến, tất cả đồng loạt nổ súng tấn công. Với bẫy mìn chờ sẵn và trong thế chủ động cùng hoả lực mạnh từ trên cao đánh xuống, chỉ trong vòng 15 phút, 07 chiến sĩ cảm tử của Đại đội V12 đã đánh tan tiểu đoàn lính Mỹ, hàng chục tên bỏ mạng tại đây. Âm mưu chiếm Dương Đá Bầu để tạo thành thế liên hoàn tấn công và phòng thủ của địch bị thất bại.

Giờ quyết định đã đến...

Bước vào giai đoạn 1969-1972, cuộc chiến càng trở nên tàn khốc hơn bao giờ hết. Trên địa bàn huyện Bắc Tam Kỳ, bom đạn địch đã tàn sát nhiều người dân, phá hoại nhà cửa, mùa màng; có những đêm hàng chục đồng bào trong huyện bị chết vì bom pháo của địch. Dã man hơn, chúng cho xe cày ủi hết những nền nhà, cây cối còn lại của từng xóm, bắt nhân dân vào khu dồn; dùng chất độc hoá học rải xuống các vùng giải phóng Kỳ Sơn, Kỳ Quế và vùng giáp ranh các xã Kỳ An, Kỳ Phước, Kỳ Thịnh làm cho cây cối, hoa màu chết yểu. Nhiều vùng lúc bấy giờ trắng dân. Chỉ trong vòng hai năm 1969-1970, địch tiến hành 174 cuộc càn quét, giết chết hơn 1.000 người dân. Hầu hết nhân dân vùng giải phóng bị địch xúc tát vào các khu dồn hoặc chạy xuống vùng địch sinh sống. Hành động của chúng đã làm cho cả huyện Bắc Tam Kỳ lúc bấy giờ chìm trong cảnh chết chóc, bệnh tật, nạn đói...

Tàn khốc là vậy, nhưng ánh sáng niềm tin về một ngày mai thắng lợi chưa bao giờ phai trong người dân nơi đây.Họ luôn kiên trung, bám trụ để nuôi, che dấu, giúp đỡ lực lượng cách mạng. Và đó cũng là một trong những lý do đầu tiên mà địch buộc phải thất bại- đó chính là lòng dân. Mặc dù bị địch dùng mọi thủ đoạn để đưa dân ra khỏi cách mạng, nhưng nhân dân vẫn kiên quyết trụ bám hỗ trợ cho cách mạng. Phối hợp tác chiến, các đơn vị của huyện đã đánh thắng một số trận xuất sắc ở cứ điểm Núi Cấm; tập kích ấp chiến lược Trung Đàn; đồn Ngọc Mỹ, đồn Mới (thôn 2 xã Kỳ Thịnh); đặc biệt là trận đánh tại Cống Lở và Trà Vu vào năm 1971 và 1972. Với thắng ở Trà Vu và một số chiến công trên chiến trường huyện Bắc Tam Kỳ đã góp phần quan trọng làm thất bại kế hoạch "bình định cấp tốc", "bình định đặc biệt", góp phần cùng với tỉnh và toàn miền Nam làm phá sản chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh" của đế quốc Mỹ; buộc đế quốc Mỹ phải ký kết Hiệp định Pari 1973, cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam.

Nhưng đế quốc Mỹ vẫn không từ bỏ dã tâm của mình, không chấp nhận thua đau, chúng đã chi viện cho nguỵ quân mở những cuộc càn quét "tràn ngập lãnh thổ" đánh lên vùng ta kiểm soát, cắm cờ, giành đất, giành dân, ngang nhiên phá bỏ Hiệp định. Giành quyền làm chủ đã khó, bảo vệ vùng giải phóng càng khó hơn; hành động của chúng đã làm cho cuộc chiến khốc liệt hơn bao giờ hết. Nhiệm vụ chủ yếu của ta lúc này là tổ chức cho các đội công tác thọc sâu vào vùng địch kiểm soát, tuyên truyền vận động nhân dân chuẩn bị tinh thần để nổi dậy giải phóng quê hương. Lãnh đạo nhân dân chống địch khủng bố, đấu tranh chống lại sự đàn áp; xây dựng lực lượng du kích mật trong lòng địch. Ngày 22/7/1974, quân ta bí mật triển khai tập kích Trà Vu. Sau 45 phút chiến đấu, địch thất thủ, ta chiếm trọn chốt điểm Trà Vu. Khí thế cách mạng ngày càng sục sôi, ngày 10/3/1975, được sự trợ giúp của Sư đoàn 2 của Quân khu 5, ta quyết định khai mở chiến dịch Đông-Xuân đầu tiên là đánh đồn Dương Bút, tiếp là đánh đồn 211 (Tiên Phước); toàn bộ trung tâm biệt kích rừng xanh của địch tháo chạy, địch hoang mang, rệu rã.

Từ ngày 16/3 đến 22/3/1975, với chủ trương không đợi địch đến mới đánh mà chủ động tấn công, các cánh quân của ta đẩy nhanh tốc độ tiến công vào các hệ thống phòng thủ từ xa của địch. Tối ngày 23, rạng sáng ngày 24 tháng 3 năm 1975, hệ thống phòng thủ của địch đã bị chọc thủng, các lực lượng của ta từ các hướng tiến công như vũ bão về giải phóng thị xã Tam Kỳ và tỉnh lỵ Quảng Tín, kết thúc vẻ vang chặng đường 21 năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

47 mùa xuân của hòa bình, thống nhất đã trôi qua, nhưng đất và người nơi đây mãi là niềm tự hào của bao thế hệ. Trong chiến tranh, lớp cha trước, lớp con sau kiên cường trụ bám đánh địch đến cùng. Trong thời bình, toàn Đảng, toàn quân, toàn dân trên dưới một lòng chung sức trên con đường xây dựng huyện nông thôn mới, vì mục tiêu giàu mạnh, hạnh phúc./.

Nguyễn Thị Thùy

Phuninh.gov.vn
Phú Ninh Đất và Người