KỶ NIỆM 96 NĂM NGÀY MẤT CỤ PHAN CHÂU TRINH (24/3/1926- 24/3/2022)

Tư tưởng "Khai dân trí" của Phan Châu Trinh với vấn đề thực học

Đã hơn 100 năm trôi qua - kể từ khi Phan Châu Trinh phát động, khởi xướng phong trào Duy Tân, nhưng tư tưởng "Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh" vẫn mang tính thời sự sâu sắc. Nhân kỷ niệm 96 năm ngày mất của cụ, trong phạm vi bài viết sau đây chỉ tập trung khai thác về tư tưởng "Khai dân trí"- một trong 3 vấn đề được Phan Châu Trinh đưa lên hàng đầu trong hệ thống tư tưởng của mình.

Nhãn quan chính trị sắc bén

Phan Châu Trinh sinh năm 1872, tại thôn Tây Lộc, xã Tam Lộc, huyện Phú Ninh (trước đây gọi là làng Tây Lộc, thuộc huyện Tiên Phước, phủ Tam Kỳ). Là một nhà Nho yêu nước, nhưng lại có tư tưởng dân chủ sớm nhất. Từ nhỏ, ông nổi tiếng học giỏi. Từng giữ chức quan Thừa biện bộ Lễ; là mệnh quan, trí thức được triều đình nhà Nguyễn trọng dụng, nhưng chứng kiến sự thống khổ của nhân dân, sự ươn hèn, bất lực của triều đình nhà Nguyễn lúc bấy giờ; chỉ sau một năm làm quan, ông đã từ quan để dấn thân vào sự nghiệp đấu tranh chống quan lại tay sai Nam triều và chính quyền thực dân Pháp, tìm đường cứu nước, cứu dân; chấp nhận một cuộc sống gian khổ, tù đày...

Chứng kiến sự thất bại liên tục của các phong trào yêu nước, nhất là sự hy sinh của người cha trong phong trào Nghĩa hội Quảng Nam...; đã hình thành trong ông những suy nghĩ về vấn đề bạo động. Thêm vào đó, ông đã đọc được những tác phẩm của Lương Khải Siêu, Khang Hữu Vi, Mông-te-xki-ơ, Rút-xô, Vôn-te... trên lập trường của ông, cần tìm một con đường khác thích hợp hơn, có hiệu quả lâu dài và chắc chắn hơn. Từ đây, hình thành trong ông một hệ ý thức mới về tư tưởng dân quyền và dân chủ, mà tập trung chủ yếu là làm mới lại con người và xã hội Việt Nam đã lạc hậu, suy yếu.

Lý giải vấn đề trên, ông cho rằng Việt Nam bị thực dân xâm lược, đó là do dân tộc ta bị tụt hậu về mặt tri thức so với các dân tộc khác hàng thế kỷ. Khi Việt Nam còn ở nền kinh tế nông nghiệp, với hơn 95% dân số mù chữ và hoàn toàn mù thông tin về thế giới xung quanh thì các nước phương Tây đã làm kinh tế công nghiệp, đang tiến nhanh lên kinh tế tri thức và thực hiện công cuộc toàn cầu hóa lần thứ nhất. Chính vì vậy, muốn cứu dân tộc, không còn con đường nào khác là phải đuổi kịp về mặt tri thức với các dân tộc khác, đưa dân tộc lên ngang tầm thời đại với các dân tộc khác. Chỉ khi đó, chúng ta mới có thể cùng tồn tại và cạnh tranh với họ. Từ nhận thức đó, ông đã phát động phong trào Duy Tân trong toàn xã hội; trong rất nhiều việc phải làm của phong trào Duy Tân, ông chọn ba việc cần làm trước: "Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh". "Khai dân trí" là bỏ lối học cũ, mở các trường dạy chữ quốc ngữ, học chữ gắn với học nghề, học các môn khoa học thực dụng..."Chấn dân khí" là thức tỉnh tinh thần tự lực, tự cường, mọi người giác ngộ được quyền lợi của mình, giải thoát được sự đàn áp của chế độ thực dân và phong kiến. "Hậu dân sinh" là phát triển kinh tế, khai hoang làm vườn, lập hội buôn, sản xuất hàng nội hóa... Cả ba vấn đề này liên quan biện chứng với nhau: có khai dân trí thì mới chấn được dân khí, mà chấn dân khí được rồi thì mới hậu dân sinh. Và chính hậu dân sinh lại tạo tiền đề mới để tiếp tục khai dân trí ở cấp độ cao hơn và ngược lại.

Và trong ba việc cần làm trước, ông đưa "Khai dân trí"- tức là vấn đề giáo dục vào vị trí thứ nhất; điều đó cho thấy, tư duy, nhãn quan chính trị của ông rất sắc bén, đã nhận thức từ rất sớm về vấn đề dân trí, xem giáo dục là quốc sách hàng đầu. Đây chính là điểm rất khác biệt của ông trong hành trình hoạt động cách mạng tìm đường cứu nước.

"Khai dân trí" với vấn đề thực học

"Khai dân trí", ông chủ trương đoạn tuyệt với một nền giáo dục xa rời thực tiễn, chạy theo danh, vị, quên đi cái nhục mất nước, bàng quan trước nỗi đau của dân, của nước. Kêu gọi xây dựng một nền giáo dục thực học, thực nghiệp, cốt yếu là giáo dục gắn với thực tiễn của đất nước, chuẩn bị cho cuộc đấu tranh khôi phục sự thua kém của nước ta so với các nước văn minh phát triển, tiến hành cách tân đất nước để giành độc lập tự do.

Trong bối cảnh đất nước lúc bấy giờ, bị bế tắc về đường lối cách mạng, trong khi đó tư tưởng Nho giáo phong kiến đè nặng lên xã hội, thì tư tưởng "Khai dân trí" đã mang đến cho xã hội Việt Nam một luồng tư tưởng mới, nhất là ở lĩnh vực giáo dục, như nhận xét của Huỳnh Thúc Kháng: "Nhà ái quốc Tây Hồ ở trong màn đen che phủ mấy lớp, một tay xé toang khiến cho chính phủ bù nhìn dưới máy giựt của người Pháp hoàn toàn mất tín nhiệm của quốc dân; dầu cho sơn thiếp, tô điểm...". Như vậy, từ rất sớm, Phan Châu Trinh đã nhìn thấy vấn đề và đã giải quyết khá căn bản mối quan hệ giữa giáo dục tinh hoa và giáo dục đại chúng theo hướng coi trọng giáo dục đại chúng. Nét chủ đạo trong cách nghĩ, cách làm giáo dục được xem là tiên tiến và giàu chất nhân văn của Phan Châu Trinh chính là việc xác định mục đích học tập trong các nhà trường. Học để thực nghiệp chứ không phải học để có bằng cấp. Học để được biết mình có những quyền gì và cần phải làm gì để có được quyền ấy. Học để biết những điều cần biết, học mà không bị sức ép của bằng cấp và sức ép của thi cử; học để chiếm lĩnh tri thức và vận dụng vào thực tiễn cuộc sống.

Có thể thấy rằng, những vấn đề mà "Khai dân trí" nêu ra và cơ bản đã giải quyết có ý nghĩa thời sự sâu sắc không chỉ đối với xã hội Việt Nam lúc bấy giờ, mà cho đến tận bây giờ vẫn còn nguyên giá trị, nhất là về mục đích và phương thức của giáo dục. Mục đích của nền giáo dục là phải tạo nên những con người mạnh mẽ, biết tự chủ, tự lập và tự cường. Phương thức giáo dục, đó chính là khơi gợi khả năng tư duy của người dạy và người học, tạo sự chủ động tiếp thu, khác hẳn với truyền thống giáo dục thụ động, sáo mòn. Xu thế hiện nay mà giáo dục đang hướng đến chính là mục đích và phương thức giảng dạy nói trên. Nhằm đào tạo xây dựng những con người có nhân cách hài hòa và toàn diện, có khả năng tự chủ và làm việc độc lập, đồng thời biết cộng tác với người khác. Phương thức ở đây chính là thực dạy, thực học, thực nghiệp; đào tạo theo nhu cầu của xã hội, không phải đào tạo theo những gì đã có ra; cốt yếu chính là tạo nên những con người tự trọng, tự tin, thực tâm, thực tài đi bằng chính năng lực, đôi bàn tay và khối óc của mình, góp phần chung tay xây dựng quê hương, đất nước.

Để thực hiện được bài học về giáo dục trong tư tưởng "khai dân trí" mà cụ Phan để lại, đồng thời đáp ứng với yêu cầu, nhiệm vụ của huyện trong tình hình hiện nay; ngành giáo dục của huyện cần nỗ lực nhiều hơn nữa; tiếp tục đổi mới toàn diện từ nội dung đến hình thức theo tinh thần Nghị quyết 29-NQ/TW, ngày 4/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ương 8, khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế; Kết luận 51-KL/TW ngày 30/5/2019 của Ban Bí thư Trung ương về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8, khóa XI; các nghị quyết, kết luận của Tỉnh ủy, Huyện ủy về thực hiện nội dung trên. Cùng với đó, cần chú trọng yếu tố giáo dục truyền thống văn hóa, lịch sử, nhất là truyền thống hiếu học của vùng đất Phú Ninh. Tăng cường tổ chức các cuộc thi, hội thi, tọa đàm tìm hiểu về đất và người nơi đây. Tăng thời lượng tích hợp các môn học xã hội để giảng dạy về truyền thống văn hóa, lịch sử trong các trường học trên địa bàn huyện... thông qua đó, nhằm bồi dưỡng, giáo dục lòng tự hào, tình yêu quê hương, đất nước cho học sinh, đoàn viên, thanh niên. Cần tiếp tục đổi mới phương pháp dạy học, ứng dụng công nghệ bổ trợ các bài giảng, tạo sự hấp dẫn, lôi cuốn người học; đối với các trường học, cần chú trọng hơn nữa việc kết hợp dạy kiến thức và dạy kỹ năng, đào tạo nên những con người mới, có khả năng thích ứng với mọi hoàn cảnh, yêu cầu của xã hội.

Đã hơn 100 năm trôi qua, kể từ khi phong trào Duy Tân ra đời, nhưng nhìn từ góc độ giáo dục, thì tư tưởng về "Khai dân trí" thông qua con đường thực dạy, thực học, thực nghiệp của Phan Châu Trinh cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị, có ý nghĩa sâu sắc đối với giáo dục nói chung và giáo dục của huyện Phú Ninh nói riêng. Tưởng nhớ ông, nhiều nơi trong cả nước, trong đó có tỉnh Quảng Nam và huyện Phú Ninh đã dùng tên Phan Châu Trinh và một số danh xưng khác của ông: Tây Hồ, Duy Tân để đặt tên cho các trường học; điều đó cho thấy, sự ảnh hưởng của ông cùng tư tưởng duy tân có ý nghĩa sâu sắc không chỉ đối với đời sống chính trị ở nước ta đầu thế kỷ XX mà cho đến ngày nay vẫn còn giá trị, nhất là trên lĩnh vực giáo dục về thực học, thực nghiệp, thực tài.

Nguyễn Thị Thùy

Phuninh.gov.vn
Phú Ninh Đất và Người